JV color JV color JV color
Thứ bảy, 16 Tháng 10 2021

Video nổi bật

Tìm kiếm

Joomla Templates and Joomla Extensions by JoomlaVision.Com
  • Tin tức

  • Tin tức

  • Tin tức

  • Tin tức

Thống kê

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay313
mod_vvisit_counterHôm qua34
mod_vvisit_counterTuần này641
mod_vvisit_counterTuần trước491
mod_vvisit_counterTháng này1334
mod_vvisit_counterTháng trước5249
mod_vvisit_counterTất cả293768

Home Tin tức & sự kiện

Tin tức & sự kiện

Đoàn Luật sư tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu chung tay phòng chống đại dịch Covid-19

Chỉ sau hơn một ngày vận động, Đoàn Luật sư tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã vận động đóng góp được gần 70.000.000 đồng với hơn 70 luật sư, người tập sự hành nghề luật sư của Đoàn tham gia.

Thực hiện nghiêm túc Chỉ thị 15/CT-TTg ngày 27/3/2020 và Chỉ Thị 16/CT-TTg ngày 31/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ về các biện pháp phòng chống đại dịch Covid-19, đồng thời hưởng ứng lời kêu gọi của UBTW MTTQ Việt Nam và của Liên đoàn Luật sư Việt Nam về việc tự nguyện đóng góp vào quỹ phòng chống đại dịch Covid-19.

Doan Luat su BRVT 42020

Đoàn Luật sư tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu tham gia ủng hộ phòng chống dịch Covid-19.

Ngày 06/4/2020 vừa qua, Ban Chủ nhiệm Đoàn Luật sư tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đã có Công văn đề nghị các tổ chức hành nghề luật sư, các luật sư và người tập sự hành nghề luật sư của Đoàn thực hiện tốt nhất các biện pháp giãn cách xã hội, tuân thủ nghiêm việc đeo khẩu trang trong quá trình tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng cũng như trong sinh hoạt trong thời gian dịch bệnh. Đồng thời, kêu gọi các các luật sư và người tập sự hành nghề luật sư của Đoàn tự nguyện đóng góp tiền ủng hộ quỹ phòng chống Covid-19, chung tay cùng cộng đồng xã hội nhằm sớm đẩy lùi dịch bệnh thế kỷ này.

Chỉ sau hơn một ngày vận động, đã có hơn 70 luật sư, người tập sự hành nghề luật sư của Đoàn đóng góp được gần 70.000.000 đồng.

Tuy số tiền thu được không lớn, nhưng cũng phần nào thể hiện được sự đoàn kết, góp phần tiếp thêm nguồn lực cho các lực lượng ở tuyến đầu chống dịch (các y bác sỹ, nhân viên y tế, các cán bộ chiến sỹ lực lượng vũ trang) và hỗ trợ cho các người lao động nghèo đang bị ảnh hưởng nặng nề nhất vì dịch bệnh.

Với số tiền ủng hộ, Đoàn dự kiến sẽ chuyển một phần tới UBMTTQ Việt Nam tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, và một phần chuyển về Quỹ ủng hộ phòng chống Covid-19 của Liên đoàn Luât sư Việt nam.

LUẬT SƯ TRƯƠNG XUÂN TÁM

 

Một số bất cập cần bổ sung sửa đổi Luật Phá sản 2014

Luật Phá sản số 51/2014/QH13 ngày 19/6/2014 là một định chế tư pháp trong nền kinh tế thị trường. Luật này quy định về trình tự, thủ tục nộp đơn, thụ lý và mở thủ tục phá sản; xác định nghĩa vụ về tài sản và biện pháp bảo toàn tài sản trong quá trình giải quyết phá sản; thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh; tuyên bố phá sản và thi hành quyết định tuyên bố phá sản áp dụng­ đối với phá sản doanh nghiệp và hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã… Tuy nhiên, qua thực tiễn thi hành áp dụng luật này có nhiều bất cập, hạn chế chưa được dự liệu giải quyết những tồn tại và phát sinh trong thực tế đối với vụ việc phá sản doanh nghiệp. Hoàn thiện pháp luật về phá sản và hoàn thiện thủ tục tư pháp về phá sản là yêu cầu bức thiết để xử lý các vấn đề cấp bách hiện nay khi giải quyết vụ việc phá sản.

Luat Pha San

Một số bất cập cần bổ sung sửa đổi Luật Phá sản 2014.

Qua thực tiễn thực hiện nhiệm vụ của Quản tài viên trong ba (03) vụ việc phá sản doanh nghiệp tại Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu theo các quyết định chỉ định Quản tài viên:  (1) Số 01/2018/QĐ-CĐ ngày 12/9/2018 trong vụ việc phá sản đối với Công ty TNHH JLG Việt Nam theo Quyết định mở thủ tục phá sản số 01/2018/QĐ-MTTPS ngày 12/9/2018, Quyết định tuyên bố phá sản số 01/2019/QĐ-TBPS ngày 02/8/2019; (2) Số 02/2018/QĐ-CĐ ngày 12/9/2018 trong vụ việc phá sản đối với Công ty TNHH Gốm sứ Mỹ Xuân theo Quyết định mở thủ tục phá sản số 02/2018/QĐ-MTTPS ngày 12/9/2018; (3) Số 03/2018/QĐ-CĐ ngày 12/9/2018 trong vụ việc phá sản đối với Công ty TNHH Đóng tàu và cơ khí hàng hải Sài Gòn (Sofel) theo Quyết định mở thủ tục phá sản số 03/2018/QĐ-MTTPS ngày 12/9/2018.

Chúng tôi nêu ra các vấn đề cấp bách, cần thiết được nghiên cứu sửa đổi, bổ sung pháp luật phá sản sau đây:

1. Về chỉ định Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản

1.1. Trong chế định thủ tục phá sản, Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản  (sau đây gọi tắt chung là “Quản tài viên”) là người tiến hành thủ tục phá sản thực hiện quản lý, thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán trong quá trình giải quyết phá sản (Khoản 7, 8 ,9 Điều 4).  

Theo quy định Luật Phá sản số 51/2014/QH13, chỉ có người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá  sản mới có quyền đề xuất chỉ định Quản tài viên (khoản 2 Điều 19; khoản 3 Điều 26; khoản 3 Điều 27; khoản 4 Điều 28; khoản 2 Điều 29 Luật Phá sản). Một trong những căn cứ bắt buộc để Thẩm phán ra quyết định chỉ định Quản tài viên là phải căn cứ theo đề xuất chỉ định của người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản (điểm b khoản 2 Điều 45 Luật Phá sản).

Trong thực tế xảy ra các trường hợp Thẩm phán ra quyết định chỉ định Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản (gọi tắt là “Công ty”) như sau:

– Trường hợp thứ nhất: Người nộp đơn đề xuất chỉ định đích danh duy nhất một Quản tài viên thực hiện quản lý, thanh lý tài sản; Thẩm phán căn cứ vào đề xuất đó ban hành quyết định chỉ định đích danh Quản tài viên đó;

– Trường hợp thứ hai: Người nộp đơn chỉ định đích danh duy nhất một Công ty thực hiện quản lý, thanh lý tài sản; Thẩm phán căn cứ vào đề xuất đó ban hành quyết định chỉ định đích danh Công ty;

– Trường hợp thứ ba: Người nộp đơn chỉ định đích danh một Quản tài viên và một Công ty (các bên độc lập) thực hiện quản lý, thanh lý tài sản; Thẩm phán căn cứ vào đề xuất đó ban hành một quyết định chỉ định đích danh Quản tài viên đó và một quyết định chỉ định đích danh Công ty đó;

– Trường hợp thứ tư: Người nộp đơn đề xuất chỉ định đích danh duy nhất một Quản tài viên thực hiện quản lý, thanh lý tài sản; Thẩm tài phán căn cứ vào đề xuất đó ban hành quyết định chỉ định đích danh Quản viên đó; xong  Quản tài viên được chỉ định đó lại tiếp tục đề xuất Thẩm phán chỉ định thêm một Quản tài viên nữa và Thẩm phán ban hành thêm quyết định chỉ định thêm Quản tài viên;

Việc chỉ định Quản tài viên, Công ty thực hiện quản lý, thanh lý tài sản của doanh nghiệp như trường hợp 1 & 2 là đúng theo quy định, đơn giản, không vướng mắc.

Các vấn đề đặt ra

Việc chỉ định Quản tài viên, Công ty thực hiện quản lý, thanh lý tài sản của doanh nghiệp như trường hợp 3 và 4 có đúng quy định không? Trong vụ việc phá sản, người nộp đơn được quyền chỉ định bao nhiêu Quản tài viên, bao nhiêu Công ty thực hiện quản lý, thanh lý tài sản của doanh nghiệp? có được quyền chỉ định cả hai vừa Quản tài viên, vừa Công ty thực hiện quản lý, thanh lý tài sản của doanh nghiệp?

Luật Phá sản số 51/2014/QH13 không hạn chế, không cấm việc người nộp đơn chỉ định số lượng Quản tài viên, Công ty thực hiện quản lý, thanh lý tài sản của doanh nghiệp, cũng không quy định rõ số lượng Quản tài viên, Công ty thực hiện quản lý, thanh lý tài sản của doanh nghiệp trong quá trình giải quyết vụ việc phá sản, đã dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau, phát sinh rắc rối và phức tạp về trách nhiệm, quyền lợi và nghĩa vụ các bên thực hiện quản lý, thanh lý tài sản của doanh nghiệp.

Ngoài người nộp đơn ra thì không còn ai có quyền đề xuất chỉ định Quản tài viên. Trường hợp Quản tài viên bị thay đổi theo khoản 1 Điều 46 Luật phá sản, thì ai có quyền chỉ định Quản tài viên mới (nếu như người nộp đơn không đề xuất chỉ định)? 

2. Về thời hạn gửi giấy đòi nợ, mất quyền đòi nợ

Việc nộp giấy đòi nợ được quy định tại khoản 1 Điều 66 Luật Phá sản như sau: “1. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày TAND ra quyết định mở thủ tục phá sản, chủ nợ phải gửi giấy đòi nợ cho Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản.

Thực tế, tại hầu hết các quyết định mở thủ tục phá sản của tòa án luôn quy định: chủ nợ phải gửi giấy đòi nợ cho tòa án trong thời hạn 30 ngày, khi hết thời hạn này mà không có lý do chính đáng thì chủ nợ bị mất quyền đòi nợ (từ bỏ quyền đòi nợ).

Trong vụ việc phá sản Công ty Sofel (điển hình), Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu yêu cầu chủ nợ phải nộp giấy đòi nợ  (hồ sơ về khoản nợ) trực tiếp tại tòa án, toàn bộ hồ sơ chủ nợ do tòa án quản lý lưu giữ, sau đó Quản tài viên phải đến tòa án xem hồ sơ để lập danh sách chủ nợ; sau khi hết thời hạn 30 ngày gửi giấy đòi nợ tòa án vẫn tiếp tục nhận giấy đòi nợ (không giới hạn) và yêu cầu Quản tài viên bổ sung vào danh sách chủ nợ khi phát sinh chủ nợ mới.

Vấn đề thực tiển đặt ra

– Giấy đòi nợ (hồ sơ về khoản nợ) chủ nợ phải nộp cho Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản hay là nộp cho Tòa án?;

– Chủ nợ có bị mất quyền đòi nợ khi hết thời hạn 30 ngày nộp giấy đòi nợ?

– Chủ nợ được quyền nộp giấy đòi nợ cho đến thời điểm nào?

– Đối với chủ nợ là người được thi hành án thì có phải nộp giấy đòi nợ?

– Chủ nợ có được quyền đọc, ghi chép, sao chụp đối với hồ sơ đòi nợ của chủ nợ khác?

Đối với việc nộp, nhận hồ sơ đòi nợ, trong quá trình giải quyết các vụ việc phá sản, Tòa án quy định việc nộp giấy đòi nợ tại Tòa án, chứ Tòa án không thực hiện quy định nộp giấy đòi nợ cho Quản tài viên như quy định của luật pháp sản. Do đó việc luật phá sản quy định việc nộp, nhận giấy đòi nợ tại Quản tài viên là không thực tế, bất khả thi. Chúng tôi thấy rằng, luật phá sản nên sửa đổi thống nhất theo hướng chủ nợ nộp giấy đòi nợ (hồ sơ về khoản nợ) tại Tòa án nhằm để bảo đảm an toàn trong việc quản lý lưu giữ hồ sơ phá sản (hồ sơ đòi nợ thuộc tính chất của chứng cứ).

Đối với việc tòa án quy định  khi hết thời hạn 30 ngày mà chủ nợ không nộp giấy đòi nợ thì bị mất quyền đòi nợ (từ bỏ quyền đòi nợ) là không phù hợp quy định của pháp luật phá sản hiện hành bởi lẽ Luật Phá sản số 51/2014/QH13  hoàn toàn không quy định điều này, do đó Tòa án không có quyền tước bỏ quyền đòi nợ của chủ nợ sau khi hết thời hạn 30 ngày gửi giấy đòi nợ (Phân biệt với Luật phá sản năm 2004 quy định tại khoản 1 Điều 51, chủ nợ phải gửi giấy đòi nợ cho Toà án trong thời hạn 60 ngày, hết thời hạn này các chủ nợ không gửi giấy đòi nợ thì được coi là từ bỏ quyền đòi nợ).

Thực tế cũng có những trớ trêu là không phải tất cả chủ nợ đều mong muốn doanh nghiệp bị phá sản, do đó họ chần chừ đắn đo trong tình thế phải nộp giấy đòi nợ (ví dụ Công ty Sofel bị một chủ nợ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, nhưng còn nhiều chủ nợ khác thì không muốn Công ty Sofel bị mở thủ tục phá sản). Ngoài ra cũng có thể phát sinh chủ nợ tiềm năng đối với các trường hợp doanh nghiệp đang bị mở thủ tục phá sản là bên bảo lãnh thế chấp tài sản bảo đảm cho nghĩa vụ của bên thứ ba (ví dụ như trường hợp Công ty Sofel dùng tài sản của mình đem thế chấp bảo đảm cho khoản nợ của Công ty SMV vay tại Ngân hàng BIDV).

Mặt khác, việc tước bỏ quyền đòi nợ theo thời hạn ấn định của việc nộp giấy đòi nợ còn trái với quy định  tại khoản 1 Điều 110 Luật Phá sản (Điều 110. Nghĩa vụ về tài sản sau khi có quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản: 1. Quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản quy định tại các điều 105, 106 và 107 của Luật này không miễn trừ nghĩa vụ về tài sản của chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh của công ty hợp danh đối với chủ nợ chưa được thanh toán nợ, trừ trường hợp người tham gia thủ tục phá sản có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác).

Do đó, nhằm trách những cách hiểu khác nhau, không thống nhất về chúng tôi kiến nghị sửa đổi, bổ sung quy định về quyền đòi nợ theo hướng không hạn chế thời hạn nộp giấy đòi nợ cho đến khi ban hành quyết định tuyên bố phá sản.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 71 Luật Phá sản, khi tòa án ra quyết định mở thủ tục phá sản, cơ quan thi hành án dân sự phải ra quyết định đình chỉ và chuyển hồ sơ vụ việc cho TAND đang tiến hành thủ tục phá sản để giải quyết. Như vậy đối với chủ nợ là người được thi hành án thì có phải nộp giấy đòi nợ hay không? Theo chúng tôi, người được thi hành án là chủ nợ đương nhiên nên không cần phải nộp giấy đòi nợ, tuy nhiên cần quy định rõ trong điều luật.

Ngoài ra đối với các trường hợp tòa án, trọng tài, cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định đình chỉ và chuyển hồ sơ vụ việc cho TAND đang tiến hành thủ tục phá sản để giải quyết thì việc xác định chủ nợ như thế nào, theo trình tự thủ tục nào? Đối với chủ nợ là người được thi hành án mà sau đó cấp giám đốc thẩm, tái thẩm hủy bản án, quyết định đó thì giải quyết như thế nào?.

Thực tế xảy ra nhiều trường hợp chủ nợ này yêu cầu được đọc, ghi chép, sao chụp đối với hồ sơ đòi nợ của chủ nợ khác. Tại khoản 5 Điều 18 Luật Phá sản quy định người tham gia thủ tục phá sản được biết và ghi chép, sao chụp tài liệu, chứng cứ do người tham gia thủ tục phá sản khác xuất trình hoặc do thẩm phán thu thập. Tuy nhiên, đối với việc chủ nợ có được quyền đọc, ghi chép, sao chụp đối với hồ sơ đòi nợ của chủ nợ khác hay không thì chưa được quy định rõ trong luật phá sản. Nhằm để bảo vệ thông tin tài sản, thông tin giao dịch của chủ nợ, chúng tôi đề xuất quy định rõ là chủ nợ không được quyền đọc, ghi chép, sao chụp đối với hồ sơ đòi nợ của chủ nợ khác.

3. Về thanh toán thù lao, chi phí Quản tài viên đối với trường hợp thực hiện nghĩa vụ bù trừ

Bù trừ nghĩa vụ giữa doanh nghiệp bị mở thủ tục phá sản với chủ nợ vụ đối với hợp đồng được xác lập trước khi có quyết định mở thủ tục phá sản được quy định tại Điều 63 Luật Phá sản, thực hiện theo quy định tại Điều 378 Bộ luật dân sự. Việc thực hiện bù trừ nghĩa vụ phải được sự đồng ý của Quản tài viên; Quản tài viên báo cáo thẩm phán về việc thực hiện bù trừ nghĩa vụ.

Như vậy, Quản tài viên tham gia làm việc và chịu trách nhiệm trong quá trình thực hiện nghĩa vụ bù trừ nên mất nhiều thời gian, công sức, thậm chí phải định giá tài sản để làm cơ sở cân đối nghĩa vụ bù trừ, thế nhưng trong trường hợp này Quản tài viên không được thanh toán thù lao, chi phí.

Nghị định số 22/2015/NĐ-CP ngày 16/2/2015 của Chính Phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phá sản, quy định chi phí Quản tài viên  được thanh toán từ giá trị tài sản thu được sau khi thanh lý.

Vấn đề đặt ra, nếu trường hợp sau khi thực hiện nghĩa vụ bù trừ mà doanh nghiệp bị mở thủ tục phá sản không còn tài sản thì ai thanh toán chi phí Quản tài viên, chi phí phá sản giải quyết như thế nào nếu rơi vào trường hợp này? Cần lưu ý rằng, các trường hợp tương tự như thế này là rất phổ biến trong thực tiển phá sản doanh nghiệp.

4. Về thanh toán thù lao, chi phí Quản tài viên đối với trường hợp cho thanh toán nợ có bảo đảm bằng tài sản bảo đảm

Về thanh toán nợ có bảo đảm bằng tài sản bảo đảm của doanh nghiệp bị mở thủ tục phá sản cho chủ nợ có bảo đảm được quy định tại Điều 53 Luật phá sản; Mục 9 hướng dẫn Điều 41 và Điều 53 Luật phá sản tại Công văn 152/TANDTC-PC  ngày 19/7/2017 của TANDTC V/v giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng, xử lý nợ xấu; Điều 8 Nghị quyết số 03/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của HĐTP-TANDTC Quy định xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm theo NQ.42/QH.

Theo quy định sau khi mở thủ tục phá sản, Quản tài viên đề xuất Thẩm phán về việc xử lý khoản nợ có bảo đảm đối với các trường hợp thuộc quy định tại khoản 1, 2 Điều 53 Luật Phá sản;  đối với khoản nợ có bảo đảm được xác lập trước khi Tòa án nhân dân thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản được thanh toán bằng tài sản bảo đảm đó (khoản 3 Điều 53). Như vậy, Quản tài viên tham gia làm việc và chịu trách nhiệm trong quá trình Tòa án quyết định cho thanh toán nợ có bảo đảm bằng tài sản bảo đảm nên mất nhiều thời gian, công sức, thậm chí phải định giá tài sản để làm cơ sở cân đối chênh lệch giá trị, tham gia bàn giao tài sản thanh cho chủ nợ…, thế nhưng trong trường hợp này Quản tài viên không được thanh toán thù lao, chi phí theo Nghị định số 22/2015/NĐ-CP ngày 16/2/2015.

Vấn đề đặt ra, nếu trường hợp sau khi thực hiện thanh toán nợ có bảo đảm bằng toàn bộ tài sản bảo đảm mà doanh nghiệp không còn tài sản thì ai thanh toán chi phí Quản tài viên, chi phí phá sản giải quyết như thế nào nếu rơi vào trường hợp này? Cần lưu ý rằng, các trường hợp tương tự như thế này là rất phổ biến trong thực tiển phá sản doanh nghiệp.

5. Về xử lý tài sản đối với trường hợp chủ nợ có bảo đảm không đồng ý nhận tài sản bảo đảm để cấn trừ khoản nợ có bảo đảm.

Tại điểm a khoản 3 Điều 53 Luật Phá sản quy định đối với khoản nợ có bảo đảm được thanh toán bằng tài sản bảo đảm đó, theo quy định này tòa án sẽ giao tài sản bảo đảm cho chủ nợ có bảo đảm để cấn trừ khoản nợ có bảo đảm (tương ứng với quy định tại điểm c khoản 1 Điều 303, Điều 305 Bộ luật Dân sự).

Tuy nhiên thực tế vụ việc phá sản Công ty Sofel xảy ra trường hợp như sau: Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 53 Luật Phá sản, tòa án cho thanh toán khoản nợ có bảo đảm của Ngân hàng BIDV bằng tài sản bảo đảm là máy móc thiết bị, nhà xưởng, phương tiện vận chuyển và các tài sản khác của Công ty Sofel, yêu cầu Ngân hàng BIDV-CN.HCM nhận tài sản bảo đảm tương ứng với giá trị thẩm định giá để cấn trừ một phần khoản nợ có bảo đảm. Thế nhưng, Ngân hàng BIDV phản hồi không đồng ý nhận tài sản để cấn trừ nợ mà yêu cầu Tòa án giao tài sản để Ngân hàng BIDV tổ chức bán đấu giá, số tiền thu được từ bán đấu giá tài sản sẽ được dùng thanh toán nợ cho Ngân hàng.

Tương tự, tòa án  xử lý khoản nợ có bảo đảm của Công ty Sofel đối với Ngân hàng VietinBank được thanh toán bằng tài sản bảo đảm gồm thân vỏ tàu, máy móc, thiết bị đã thi công thuộc Dự án tàu biển theo giá trị thẩm định giá,  yêu cầu Ngân hàng VietinBank nhận tài sản bảo đảm này tương ứng với giá trị thẩm định giá để cấn trừ một phần khoản nợ có bảo đảm. Thế nhưng, Ngân hàng VietinBank phản hồi không đồng ý nhận tài sản để cấn trừ nợ mà yêu cầu Tòa án giao tài sản để Ngân hàng tổ chức bán đấu giá, số tiền thu được từ bán đấu giá tài sản sẽ được dùng thanh toán nợ cho Ngân hàng.

Vấn đề đặt ra

  • Trong trường hợp chủ nợ có bảo đảm không đồng ý nhận tài sản để cấn trừ nợ thì giải quyết như thế nào?
  • Trong trường hợp chủ nợ có bảo đảm không đồng ý nhận tài sản để cấn trừ nợ mà yêu cầu Tòa án giao tài sản để chủ nợ tự tổ chức bán đấu giá, số tiền thu được từ bán đấu giá tài sản sẽ được dùng thanh toán nợ cho khoản nợ có bảo đảm thì giải quyết như thế nào?

6. Về lập bảng kiểm kê tài sản

Chúng tôi thấy rằng việc lập bảng kê tài sản là cực kỳ khó khăn và trở ngại nhất trong vụ việc phá sản đối với trường hợp doanh nghiệp bị chủ nợ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản.

Việc kiểm kê tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán được quy định tại Điều 65 Luật Phá sản. Doanh nghiệp bị mở thủ tục phá sản phải tiến hành kiểm kê tài sản và xác định giá trị tài sản trong thời hạn không quá 90 ngày kể từ ngày nhận được quyết định mở thủ tục phá sản.

Thế nhưng, thực tế  đối với trường hợp phá sản Công ty Sofel (bị chủ nợ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản), Công ty này không tiến hành kiểm kê tài sản với lý do người đại diện theo pháp luật đã rời Việt Nam từ trước khi bị mở thủ tục phá sản (không trở lại dù tòa án triệu tập), nhân sự và người lao động đã nghỉ việc hết; khối lượng tài sản sản của Công ty Sofel (nhà máy đóng tàu) rất lớn, lưu giữ nhiều nơi nhưng thông tin hồ sơ kế toán tài sản không biết ai lưu giữ, quản lý. Lẽ thường ai cũng biết rằng, nếu không có lợi ích gì thì không ai nhận công việc do người khác chỉ định, do đó quy định Tòa án, Quản tài viên  chỉ định người khác làm đại diện của doanh nghiệp phá sản thực hiện công việc kiểm kê và xác định giá trị tài sản là không khả thi, và thực tế họ cũng chẳng chịu làm. Công ty Sofel có người đại diện theo ủy quyền trong quá trình mở thủ tục phá sản, tuy nhiên họ lại không biết gì về tình hình của công ty, họ đến tòa án làm việc như là để điểm danh cho sự có mặt.

Vì vậy, Quản tài viên gặp khó khăn, trở ngại khi lập bảng kê tài sản theo quy định tại điểm b khoản Điều 16; khoản 1 Điều 75 Luật Phá sản.

Mặc dù khoản 5 quy định trường hợp đại diện doanh nghiệp và những người khác không hợp tác về việc kiểm kê tài sản hoặc cố tình làm sai lệch việc kiểm kê tài sản thì bị xử lý theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên việc áp dụng quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã  tại Mục 37 của Nghị định 67/2015/NĐ-CP ngày  14/8/2015) cũng bất khả thi (vì doanh nghiệp không còn ai để mà xử lý).

Vấn đề đặt ra: Khi doanh nghiệp không còn người có trách nhiệm tiến hành các công việc kiểm kê tài sản, cung cấp, giao nộp thông tin hồ sơ kế toán tài sản thì giải quyết như thế nào?

7. Về chi phí thẩm định giá tài sản

Theo quy định tại khoản 4 Điều 65 Luật Phá sản, trường hợp xét thấy việc kiểm kê, xác định giá trị tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã quy định tại khoản 1 Điều này là không chính xác thì TAND yêu cầu Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản tổ chức kiểm kê, xác định lại giá trị một phần hoặc toàn bộ tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã. Giá trị tài sản được xác định, định giá theo giá thị trường tại thời điểm kiểm kê.

Vấn đề đặt ra: Chi phí tổ chức kiểm kê, xác định lại giá trị tài sản lấy từ nguồn nào nếu tiền tạm ứng chi phí phá sản không đủ thanh toán? Ai phải chịu chi phí này đối với trường hợp kiểm kê, định giá tài sản bảo đảm nếu doanh nghiệp không còn tài sản khác?

Chúng tôi đề xuất sửa đổi, bổ sung theo hướng chủ nợ phải nộp tạm ứng chi phí thẩm định giá tài sản, vì như luật hiện nay thì chủ nợ chẳng làm gì cũng được chia tiền nếu doanh nghiệp còn tài sản (thực tế trong vụ phá sản Công ty Sofel, Tòa án phải thông báo vận động chủ nợ nộp tạm ứng chi phí thẩm định giá tài sản, nhưng người nộp, người không thực hiện).

8. Về giao dịch vô hiệu

Tại khoản 1 Điều 59 Luật Phá sản quy định các trường hợp giao dịch của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán được thực hiện trong thời gian 06 tháng trước ngày TAND ra quyết định mở thủ tục phá sản bị coi là vô hiệu.

Tuy nhiên đối với các trường hợp giao dịch vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật (Điều 123 BLDS), giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo (Điều 124BLDS) và các trường hợp vô hiệu khác đã quy định trong Bộ luật Dân sự 2015 không được luật phá sản đề cập.

Vấn đề đặt ra, nếu phát hiện có giao dịch vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo thì xử lý như thế nào?

9. Trường hợp tài sản thế chấp của doanh nghiệp bị ngân hàng bán sai trái trước khi doanh nghiệp bị mở thủ tục phá sản.

 Trong vụ việc phá sản Công ty Mỹ Xuân, trước 06 tháng từ khi Công ty này bị mở thủ tục phá sản,  Công ty này đã ủy quyền cho Chi nhánh Ngân hàng MB bán tài sản thế chấp với điều kiện giá bán phải đủ trả nợ gốc. Chi nhánh Ngân hàng MB đã bán trực tiếp tài sản (không qua đấu giá) cho Công ty Sơn Việt với giá thấp hơn số nợ gốc (tại thời điểm bán tài sản định giá 49 tỷ đồng nhưng chỉ bán 27 tỷ đồng). Khi Công ty Mỹ Xuân bị mở thủ tục phá sản thì Ngân hàng MB nộp giấy đòi nợ đối với số nợ gốc còn thiếu.

Vấn đề đặt ra, khi giao dịch không thuộc các trường hợp vô hiệu quy định tại Điều 59 Luật Phá sản, nhưng đối với hợp đồng giao dịch sai trái giải quyết như thế nào, thiệt hại của doanh nghiệp khi tài sản bị  bán không đúng pháp luật thì bên nào phải chịu trách nhiệm bồi thường?

10. Về nộp báo cáo tài chính

Luật Phá sản hiện hành chỉ quy định nghĩa vụ nộp báo cáo tài chính trong 03 năm gần nhất đối với trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã làm đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản (Điều 28 Luật Phá sản), còn lại các trường hợp do người khác nộp đơn thì doanh nghiệp phá sản không có nghĩa vụ nộp báo cáo tài chính.

Trường hợp mở thủ tục phá sản Công ty Sofel vào tháng 09/2019, Công ty này không nộp báo cáo tài chính của năm 2017 do không có báo cáo tài chính. Việc này khó khăn cho quá trình xác định tình trạng tài chính, tài sản của công ty này (không có người làm kế toán, không làm kiểm toán, hồ sơ kế toán không còn).

Do đó, chúng tôi đề nghị bổ sung vào Điều 20 Luật Phá sản về nghĩa vụ của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán là phải có nghĩa vụ nộp báo cáo tài chính trong 03 năm gần nhất.

Trên đây là một số ý kiến đóng góp cho việc sửa đổi, bổ sung luật pháp sản nhằm góp phần hoàn thiện chế định tư pháp phá sản tại Việt Nam. Ngoài ra, còn nhiều vấn đề vướng mắc, hạn chế khác trong quá trình áp dụng luật pháp sản, khi có điều kiện chúng tôi xin được trình bày trong những dịp tiếp theo.

Luật sư DƯƠNG THANH THUẬN

(Đoàn Luật sư Tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu)

 
 

GIA HẠN THỜI HẠN NỘP THUẾ VÀ TIỀN THUÊ ĐẤT

Ngày 8/4/2020, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã ký ban hành Nghị định Số: 41/2020/NĐ-CP về việc gia hạn thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân và tiền thuê đất. Cổng thông tin Đoàn Luật sư Bà Rịa – Vũng Tàu trân trọng đăng toàn văn của Nghị đình này.

mot goc vung tau 

 

CHÍNH PHỦ
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 41/2020/NĐ-CP

Hà Nội, ngày 08 tháng 4 năm 2020

 

NGHỊ ĐỊNH

GIA HẠN THI HẠN NỘP THUẾ VÀ TIỀN THUÊ ĐT

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 19 tháng 6 năm 2015;

Căn c Luật Qun lý thuế ngày 29 tháng 11 năm 2006;

Căn cứ Luật sửa đổi, b sung một s điều của Luật Quản lý thuế ngày 20 tháng 11 năm 2012;

Căn cứ Luật sửa đi, bổ sung một số điều của các Luật Về thuế ngày 26 tháng 11 năm 2014;

Căn cứ Luật sửa đổi, b sung một s điều của Luật Thuế giá trị gia tăng, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật Quản lý thuế ngày 06 tháng 4 năm 2016;

Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính;

Chính phủ ban hành Nghị định gia hạn thời hạn nộp thuế và tiền thuê đất.

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định việc gia hạn thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân và tiền thuê đất.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Nghị định này áp dụng đối với các đối tượng sau:

  1. Doanh nghiệp, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân hoạt động sản xuất trong các ngành kinh tế sau:
  2. Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản;
  3. Sn xuất, chế biến thực phẩm; dệt; sản xuất trang phục; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, na (trừ giường, t, bàn, ghế); sản xuất sản phẩm từ rơm, rạ và vật liệu tết bện; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác; sn xuất kim loại; gia công cơ khí; x lý và tráng phủ kim loại; sản xut sn phm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học; sn xut ô tô và xe có động cơ khác; sản xuất giường, t, bàn, ghế;
  4. Xây dựng.
  5. Doanh nghiệp, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân hoạt động kinh doanh trong các ngành kinh tế sau:
  6. Vận tải kho bãi; dịch vụ lưu trú và ăn uống; giáo dục và đào tạo; y tế và hoạt động trợ giúp xã hội; hoạđộng kinh doanh bt động sn;
  7. Hoạt động dịch vụ lao động và việc làm; hoạt động của các đại lý du lịch, kinh doanh tua du lịch và các dịch vụ h trợ, liên quan đến quảng bá và tổ chức tua du lịch;
  8. Hoạt động sáng tác, nghệ thuật và giải trí; hoạt động của thư viện, lưu trữ, bo tàng và các hoạt động văn hóa khác; hoạt động th thao, vui chơi giảtrí; hoạt động chiếu phim.

Danh mục ngành kinh tế nêu tại khoản 1 và khoản 2 Điều này được xác định theo Quyết định số 27/2018/QĐ-TTg ngày 06 tháng 7 năm 2018 của Thủ tướng Chính phủ về Ban hành hệ thống ngành kinh tế Việt Nam.

Phân ngành kinh tế theo Phụ lục I ban hành kèm theo Quyết định s 27/2018/QĐ-TTg gồm 5 cấp và việc xác định ngành kinh tế được áp dụng theo nguyên tắc: Trường hp tên ngành kinh tế nêu tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thuộc ngành cấp 1 thì ngành kinh tế được áp dụng quy định gia hạn bao gồm tất c các ngành kinh tế thuộc phân cp 2, cp 3, cấp 4, cp 5 của ngành cấp 1; trường hợp thuộc ngành cp 2 thì ngành kinh tế được áp dụng quy định gia hạn bao gồm tất cả các ngành kinh tế thuộc phân cấp 3, cấp 4, cấp 5 của ngành cp 2; trường hợp thuộc ngành cp 3 thì ngành kinh tế được áp dụng quy định gia hạn bao gồm tất c các ngành kinh tế thuộc phân cấp 4, cấp 5 của ngành cp 3; trường hp thuộc ngành cp 4 thì ngành kinh tế được áp dụng quy định gia hạn bao gồm tất cả các ngành kinh tế thuộc phân cấp 5 của ngành cp 4.

  1. Doanh nghiệp, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân hoạt động sản xuất sản phẩm công nghiệp h trợ ưu tiên phát triển; sản phẩm cơ khí trọng đim.

Sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát trin được xác đnh theo Nghị định s 111/2015/NĐ-CP ngày 03 tháng 11 năm 2015 của Chính phủ về phát triển công nghiệp hỗ trợ; sản phẩm cơ khí trọng điểm được xác định theo Quyết định số 319/QĐ-TTg ngày 15 tháng 3 năm 2018 của Th tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát trin ngành cơ khí Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035.

  1. Doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ được xác định theo quy định của Luật H trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa số 04/2017/QH14 và Nghị định s 39/2018/NĐ-CP ngày 11 tháng 3 năm 2018 của Chính phủ quy định chi tiết một s điều của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa.
  2. Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thực hiện các giải pháp hỗ trợ khách hàng là doanh nghiệp, t chức, cá nhân chịu ảnh hưởng do dịch Covid-19 theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chịu trách nhiệm công bố danh sách tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tham gia hỗ trợ khách hàng để cơ quan quản lý thuế thực hiện gia hạn thời hạn nộp thuế và tiền thuê đất theo Nghị định này.

Ngành kinh tế, lĩnh vực của doanh nghiệp, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân kinh doanh quy định tại khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều này là ngành, lĩnh vực mà doanh nghiệp, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân kinh doanh có hoạt động sản xuất, kinh doanh và phát sinh doanh thu trong năm 2019 hoặc năm 2020.

Điều 3. Gia hạn thi hạn nộp thuế và tiền thuê đất

  1. Đi với thuế giá trị gia tăng (trừ thuế giá trị gia tăng khâu nhập khẩu)
  2. Gia hạn thời hạn nộp thuế đối với số thuế giá trị gia tăng phát sinh phải nộp của kỳ tính thuế tháng 3, tháng 4, tháng 5, tháng 6 năm 2020 (đi với trường hp kê khai thuế giá trị gia tăng theo tháng) và kỳ tính thuế quý 1, quý 2 năm 2020 (đối với trường hợp kê khai thuế giá trị gia tăng theo quý) của các doanh nghiệp, tổ chức nêu tại Điều 2 Nghị định này. Thời gian gia hạn là 05 tháng, kể từ ngày kết thúc thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.

Trường hợp người nộp thuế khai b sung hồ sơ khai thuế của kỳ tính thuế được gia hạn dẫn đến làm tăng s thuế giá trị gia tăng phải nộp và gửi đến cơ quan thuế trước khi hết thời hạn nộp thuế được gia hạn thì số thuế được gia hạn bao gồm cả số thuế phải nộp tăng thêm do khai bổ sung.

Các doanh nghiệp, tổ chức thuộc đối tượng được gia hạn thực hiện kê khai, nộp Tờ khai thuế giá trị gia tăng tháng, quý theo quy định của pháp luật hiện hành, nhưng chưa phải nộp số thuế giá trị gia tăng phải nộp phát sinh trên Tờ khai thuế giá trị gia tăng đã kê khai. Thời hạn nộp thuế giá tr gia tăng của tháng, quý được gia hạn như sau:

Thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng của kỳ tính thuế tháng 3 năm 2020 chậm nhất là ngày 20 tháng 9 năm 2020.

Thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng của kỳ tính thuế tháng 4 năm 2020 chậm nhất là ngày 20 tháng 10 năm 2020.

Thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng của kỳ tính thuế tháng 5 năm 2020 chậm nhất là ngày 20 tháng 11 năm 2020.

Thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng của kỳ tính thuế tháng 6 năm 2020 chậm nhất là ngày 20 tháng 12 năm 2020.

Thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng của kỳ tính thuế quý 1 năm 2020 chậm nhất là ngày 30 tháng 9 năm 2020.

Thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng của kỳ tính thuế quý 2 năm 2020 chậm nhất là ngày 30 tháng 12 năm 2020.

  1. Trường hợp doanh nghiệp, tổ chức nêu tại Điều 2 Nghị định này có các chi nhánh, đơn vị trực thuộc thực hiện khai thuế giá trị gia tăng riêng với cơ quan thuế quản lý trực tiếp của chi nhánh, đơn vị trực thuộc thì các chi nhánh, đơn vị trực thuộc cũng thuộc đối tượng được gia hạn nộp thuế giá trị gia tăng. Trường hợp chi nhánh, đơn vị trực thuộc của doanh nghiệp, t chc nêu tại khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều 2 Nghị định này không có hoạt động sản xuất kinh doanh thuộc ngành kinh tế, lĩnh vực được gia hạn thì chi nhánh, đơn vị trực thuộc không thuộc đối tượng được gia hạn nộp thuế giá trị gia tăng.
  2. Đi với thuế thu nhập doanh nghiệp
  3. Gia hạn thời hạn nộp thuế đối với số thuế thu nhập doanh nghiệp còn phải nộp theo quyết toán của kỳ tính thuế năm 2019 và số thuế thu nhập doanh nghiệp tạm nộp quý 1, quý 2 của kỳ tính thuế năm 2020 của doanh nghiệp, tổ chức là người nộp thuế thu nhập doanh nghiệp thuộc đối tượng được quy định tại Điều 2 Nghị định này. Thời gian gia hạn là 05 tháng, k từ ngày kết thúc thời hạn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.

Trường hợp doanh nghiệp, tổ chức đã thực hiện nộp số thuế thu nhập doanh nghiệp còn phải nộp theo quyết toán của năm 2019 vào ngân sách nhà nước thì doanh nghiệp, tổ chức được điều chỉnh số thuế thu nhập doanh nghiệp đã nộp để nộp cho số phải nộp của các loại thuế khác. Đ thực hiện điều chỉnh, người nộp thuế lập thư tra soát (Mu số C1-11/NS ban hành kèm theo Thông tư số 84/2016/TT-BTC ngày 17 tháng 6 năm 2016 của Bộ Tài chính) kèm theo chứng từ nộp thuế hoặc thông tin liên quan đến nội dung đề nghị điều chỉnh gửi cơ quan thuế.

  1. Trường hợp doanh nghiệp, tổ chức nêu tại Điều 2 Nghị định này có các chi nhánh, đơn vị trực thuộc thực hiện khai thuế thu nhập doanh nghiệp riêng với cơ quan thuế quản lý trực tiếp của chi nhánh, đơn vị trực thuộc thì các chi nhánh, đơn vị trực thuộc cũng thuộc đối tượng được gia hạn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp. Trường hợp chi nhánh, đơn vị trực thuộc của doanh nghiệp, tổ chức nêu tại khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều 2 Nghị định này không có hoạt động sn xut kinh doanh thuộc ngành kinh tế, lĩnh vực được gia hạn thì chi nhánh, đơn vị trực thuộc không thuộc đối tượng được gia hạn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp.
  2. Đi với thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân của hộ gia đình, cá nhân kinh doanh

Gia hạn thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân đối với số tiền thuế phát sinh phải nộp năm 2020 của hộ gia đình, cá nhân kinh doanh hoạt động trong các ngành kinh tế, lĩnh vực nêu tại khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều 2 Nghị định này. Hộ gia đình, cá nhân kinh doanh thực hiện nộp số tiền thuế được gia hạn tại khoản này chậm nhất là ngày 31 tháng 12 năm 2020.

  1. Đối với tiền thuê đất

Gia hạn thời hạn nộp tiền thuê đất đi với số tiền thuê đt phải nộp kỳ đầu năm 2020 của doanh nghiệp, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thuộc đối tượng quy định tại Điều 2 Nghị định này đang được Nhà nước cho thuê đất trực tiếp theo Quyết định, Hợp đồng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền dưới hình thức trả tiền thuê đất hàng năm. Thời gian gia hạn là 05 tháng kể từ ngày 31 tháng 5 năm 2010.

Quy định này áp dụng cho cả trường hợp doanh nghiệp, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có nhiều Quyết định, Hợp đồng thuê đt trực tiếp của Nhà nước và có nhiều hoạt động sn xuất, kinh doanh khác nhau trong đó có ngành kinh tế, lĩnh vực quy định tại khoản 1, khoản 2, khon 3 và khoản 5 Điều 2 Nghị định này.

  1. Trường hợp doanh nghiệp, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân kinh doanh có hoạt động sản xuất, kinh doanh nhiều ngành kinh tế khác nhau trong đó có ngành kinh tế, lĩnh vực quy định tại khoản 1, khon 2, khoản 3 và khoản 5 Điều 2 Nghị định này thì: doanh nghiệp, tổ chức được gia hạn toàn bộ s thuế giá trị gia tăng, số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp; hộ gia đình, cá nhân kinh doanh được gia hạn toàn bộ thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân phải nộp theo hướng dẫn tại Nghị định này.

Điều 4. Trình tự, th tc gia hạn

  1. Người nộp thuế thuộc đối tượng được gia hạn gửi Giấy đề nghị gia hạn nộp thuế và tiền thuê đất (bng phương thức điện tử hoặc phương thức khác) theo Mu tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này cho cơ quan thuế qun lý trực tiếp một ln cho toàn bộ các kỳ của các sc thuế và tiền thuê đất được gia hạn cùng với thời điểm nộp hồ  khai thuế theo tháng (hoặc theo quý) theo quy định pháp luật về qun lý thuế. Trường hợp Giấy đề nghị gia hạn nộp thuế và tiền thuê đất không nộp cùng với thờđiểm nộp h sơ khai thuế tháng (hoặc theo quý) thì thời hạn nộp chậm nhất là ngày 30 tháng 7 năm 2020, cơ quan quản lý thuế vẫn thực hiện gia hạn nộp thuế, tiền thuê đất của các kỳ phát sinh được gia hạn trước thời điểm nộp Giấy đề nghị gia hạn.

Trường hp người nộp thuế được nhà nước cho thuê đt tại nhiu địa bàn khác nhau thì cơ quan thuế qun lý trực tiếp người nộp thuế có trách nhiệm sao gi Giấy đề nghị gia hạn nộp thuế và tiền thuê đất cho cơ quan thuế nơi có đất thuê.

  1. Người nộp thuế tự xác định và chịu trách nhiệm về việc đề nghị gia hạn đảm bảo đúng đối tượng được gia hạn theo Nghị định này. Nếu người nộp thuế gửi Giấy đề nghị gia hạn nộp thuế và tiền thuê đất cho cơ quan thuế sau ngày 30 tháng 7 năm 2020 thì không được gia hạn nộp thuế, tiền thuê đất theo quy định tại Nghị định này.
  2. Cơ quan thuế không phải thông báo cho người nộp thuế về việc chấp nhận gia hạn nộp thuế và tiền thuê đất. Trường hp trong thời gian gia hạn, cơ quan thuế có cơ s xác định người nộp thuế không thuộc đối tượng gia hạn thì cơ quan thuế có văn bản thông báo cho người nộp thuế về việc dừng gia hạn và người nộp thuế phải nộp đ số tiền thuế, tiền thuê đt và tiền chậm nộp trong khoảng thời gian đã thực hiện gia hạn vào ngân sách nhà nước. Trường hp sau khi hết thời gian gia hạn, cơ quan thuế phát hiện qua thanh tra, kiểm tra người nộp thuế không thuộc đối tượng được gia hạn nộp thuế, tiền thuê đt theo quy định tại Nghị định này thì người nộp thuế phải nộp số tiền thuế còn thiếu, tiền phạt và tiền chậm nộp do cơ quan thuế xác định lại vào ngân sách nhà nước.
  3. Trong thời gian được gia hạn nộp thuế, căn c Giấy đề nghị gia hạn nộp thuế và tiền thuê đất, cơ quan thuế không tính tiền chậm nộp đối với số tiền thuế, tiền thuê đất được gia hạn (bao gồm cả trường hp Giấy đề nghị gia hạn gửi cơ quan thuế sau khi đã nộp hồ sơ khai thuế theo tháng (hoặc theo quý) chậm nhất là ngày 30 tháng 7 năm 2020.

Điều 5. Tổ chc thực hiện và hiệu lực thi hành

  1. Nghị định này có hiệu lực thi hành kể t ngày ký.
  2. Bộ Tài chính chịu trách nhiệm chỉ đạo, tổ chức triển khai và xử lý vướng mc phát sinh trong quá trình thực hiện Nghị định này.
  3. Các Bộ trưởng, Thủ trưng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các doanh nghiệp, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này./.

 


Nơi nhận:
Ban Bí thư Trung ương Đng;
Th tưng, các Phó Thủ tướng Chính phủ;
Các bộ,  quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;
HĐND, UBND các tnh, thành phố trực thuộc trung ương;
Văn phòng Trung ương và các Ban của Đảng;
Văn phòng Tng Bí thư;
Văn phòng Ch tịch nước;
Hội đồng Dân tộc và các y ban của Quốc hội;
Văn phòng Quốc hội;
Tòa án nhân dân tối cao;
Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
Kiểm toán Nhà nưc;
Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia;
Ngân hàng Chính sách xã hội;
Ngân hàng Phát triển Việt Nam;
- Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
Cơ quan trung ương của các đoàn thể;
VPCP: BTCN, các PCN, Trợ lý TTg, TGĐ Cng TTĐT, các Vụ, Cục, đơn v trực thuộc, Công báo;
- Lưu: VT, KTTH (2b).

TM. CHÍNH PHỦ
THỦ TƯỚNG




Nguyễn Xuân Phúc

 

PHỤ LỤC

(Kèm theo Nghị định số 41/2020/NĐ-CP ngày 08 tháng 4 năm 2020 của Chính phủ)

 

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

GIẤY Đ NGHỊ GIA HẠN NỘP THUẾ VÀ TIỀN THUÊ ĐT

Kính gửi: Cơ quan thuế………………….

[01] Tên người nộp thuế:...............................................................................................

[02] Mã số thuế:

                           

[03] Địa chỉ: …………………………………………………………………………………..

[04] Số điện thoại: ……………………………………………………………………………

[05] Tên đại lý thuế (nếu có): ………………………………………………………………..

[06] Mã số thuế:

                           

[07] Loại thuế đề nghị gia hạn:

  1. □ Thuế GTGT của doanh nghiệp, tổ chức
  2. □ Thuế TNDN của doanh nghiệp, tổ chức
  3. □ Thuế GTGT và thuế TNCN của hộ gia đình, cá nhân kinh doanh
  4. □ Tiền thuê đất (kê chi tiết địa chỉ từng khu đất thuê thuộc đối tượng gia hạn tiền thuê đất)

Khu đất thuê 1: …………..

Khu đất thuê 2: …………..

….

[08] Trường hợp được gia hạn:

  1. I. Doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ

□ a) Doanh nghiệp nhỏ:

Lĩnh vực hoạt động

Số lao động

Doanh thu (VNĐ)

Nguồn vốn (VNĐ)

       

□ b) Doanh nghiệp siêu nhỏ:

Lĩnh vực hoạt động

Số lao động

Doanh thu (VNĐ)

Nguồn vốn (VNĐ)

       

II. Doanh nghiệp, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân kinh doanh hoạt động trong các lĩnh vực:

□ a) Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sn;

□ b) Sản xuất, chế biến thực phẩm; □ c) Dệt; □ d) Sản xuất trang phục; □ e) Sản xuất da và các sn phm có liên quan; □ f) Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế); sản xuất sản phẩm từ rơm, rạ và vật liệu tết bện; □ g) Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy; □ h) Sản xuất sản phẩm từ cao su và Plastic; □ i) Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác; □ j) Sản xuất kim loại; □ k) Gia công cơ khí; x lý và tráng phủ kim loại; □ l) Sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học; □ m) Sản xut ô tô và xe có động cơ khác; □ n) Sản xuất giường, tủ, bàn, ghế;

□ p) Xây dựng;

□ q) Vận tải kho bãi; □ r) Dịch vụ lưu trú và ăn uống; □ s) Giáo dục và đào tạo; □ t) Y tế và hoạt động trợ giúp xã hội; □ u) Hoạt động kinh doanh bt động sản; □ v) Hoạt động dịch vụ lao động và việc làm; □ w) Hoạt động của các đại lý du lịch, kinh doanh tua du lịch và các dịch vụ hỗ trợ, liên quan đến quảng bá và tổ chức tua du lịch;

□ x) Hoạt động sáng tác, nghệ thuật và giải trí; □ y) Hoạt động của thư viện, lưu trữ, bảo tàng và các hoạt động văn hóa khác; □ z) Hoạt động th thao, vui chơi giải trí;

□ a1) Hoạt động chiếu phim;

□ b1) Sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển;

□ c1) Sản xuất sản phẩm cơ khí trọng điểm;

□ d1) Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài;

Tôi cam đoan những nội dung kê khai trên là đúng và chịu trách nhiệm trước pháp luật về những thông tin đã khai; tôi cam kết nộp đầy đủ số tiền thuế theo thời hạn nộp thuế được gia hạn./.

 

NHÂN VIÊN ĐẠI LÝ THUẾ
Họ và tên: …………………………..
Chứng chỉ hành nghề số: ………..

Ngày……..tháng……năm……
NGƯỜI NỘP THUẾ hoặc
ĐẠI DIỆN HỢP PHÁP CỦA NGƯỜI NỘP THUẾ
Ký, ghi rõ họ tên; chức vụ và đóng dấu (nếu có)

Ghi chú:

Mục I: NNT tự xác định theo quy định xác định theo quy định của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nh và vừa số 04/2017/QH14 và Nghị định số 39/2018/NĐ-CP ngày 11/3/2018 của Chính ph quy định chi tiết một số điều của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nh và vừa.

Mục II: NNT tự xác định theo quy định tại Quyết định số 27/2018/QĐ-TTg ngày 06/7/2018 của Thủ tướng Chính; Nghị định số 111/2015/NĐ-CP ngày 3/11/2015 của Chính phủ; Quyết định số 319/QĐ-TTg ngày 15/3/2018 của Thủ tướng Chính phủ. Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tự xác định theo danh mục do ngân hàng nhà nưc Việt Nam công bố.

Giấy đề nghị gia hạn nộp thuế, tiền thuê đất chỉ gửi 01 lần cho cơ quan thuế qun lý trực tiếp cho toàn bộ các kỳ của các sắc thuế và tiền thuê đất được gia hạn. Phương thức nộp người nộp thuế lựa chọn như sau:

+ Người nộp thuế nộp theo phương thức điện t gửi tới Cổng thông tin điện tử của cơ quan thuế.

+ Người nộp thuế nộp trực tiếp tới cơ quan thuế hoặc nộp qua đường bưu chính.

 
 

Đề nghị công khai danh tính người nhiễm Covid-19

Theo luật sư, việc công khai danh tính người nhiễm Covid-19 là cần thiết, không phải là hành vi xâm phạm quyền tự do cá nhân và không ai kỳ thị...

khu vuc cach ly

Xử phạt kịp thời, nghiêm minh bất cứ ai vi phạm về việc khai báo y tế gian dối, trốn, tránh cách ly, cũng có tác dụng giáo dục và răn đe kịp thời.

Cơn bão đại dịch cúm khởi phát và bùng nổ từ Vũ Hán, Trung Quốc, mà Tổ chức Y tế thế giới (WHO) gọi là Covid-19 đã và đang càn quét hầu như toàn thế giới, với sức tàn phá nhanh và tàn khốc chưa có tiền lệ với nhiều quốc gia, gây nên cuộc khủng khoảng y tế và dẫn tới khủng khoảng kinh tế xã hội trên diện rộng, thách thức tất cả các quy chuẩn đạo đức và pháp luật, chưa biết bao giờ kết thúc.

Nhiều nước đã ban bố tình trạng khẩn cấp quốc gia hoặc thảm họa trên từng vùng lãnh thổ; nhiều đạo luật khẩn cấp được ban hành nhằm điều chỉnh hành vi của con người ứng xử trong đại dịch của nhân loại, như các quy định về cách ly xã hội, các mức xử phạt rất nặng đã được nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ đưa ra.

Ở Việt Nam, dù giai đoạn đầu phòng chống dịch đã đạt được những thắng lợi bước đầu quan trọng (chữa khỏi cả 16/16 ca bệnh, ngăn chặn thành công lây nhiễm cộng đồng, được nhân dân và bạn bè thế giới khâm phục), nhưng nay đang bước vào giai đoạn căng thẳng, cho đến tối 29/3/2020, đã tăng lên nhanh chóng, có 188 ca mắc bệnh.

Những ngày qua trên các phương tiện truyền thông đã phản ánh việc một số người, kể cả người Việt Nam và người nước ngoài, có những hành vi thiếu ý thức tự giác, thậm chí vi phạm pháp luật, như: Khai báo y tế không trung thực, né cách ly, trốn khỏi nơi đang cách ly, thu gom khẩu trang, nước diệt khuẩn mang bán trong nước hoặc xuất khẩu nhằm trục lợi trong cơn bĩ cực của nhiều người.

Các hành vi khai báo y tế không trung thực, né cách ly, trốn cách ly, chống đối lực lượng chức năng về phòng chống dịch bệnh là các hành vi nguy hiểm cho xã hội, gây thiết hại rất lớn về sức khỏe cho cộng đồng, gây thiệt hại hàng trăm, hàng ngàn tỷ đồng cho nhà nước và xã hội, đáng bị lên án về đạo đức và xử lý nghiêm khắc theo pháp luật. Nhưng đến nay chưa thấy thống kê ở đâu đã xử phạt hành chính những ai? Bao nhiêu vụ? Vì sao chưa khởi tố hình sự vụ nào?

Về cơ sở pháp luật, chúng ta đã có đủ luật lệ để xử lý các hành vi vi phạm nêu trên, bởi vì từ cuối tháng 1 vừa qua, WHO đã tuyên bố tình trạng khẩn cấp toàn cầu đối với chủng mới của virus corona.

Còn tại Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ cũng đã ký quyết định 173/QĐ-TTg để công bố dịch. Bộ Y tế đã bổ sung bệnh Covid-19 vào danh mục các bệnh truyền nhiễm nhóm A. Đây là loại dịch bệnh đặc biệt nguy hiểm, có khả năng lây lan rất nhanh, phát tán rộng và tỉ lệ tử vong cao.

Từ năm 2007, Quốc hội đã ban hành Luật về phòng, chống bệnh truyền nhiễm. Chính phủ đã ban hành Nghị định 89/Nghị định-CP ngày 25/06/2018 “Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật về phòng, chống bệnh truyền nhiễm”, theo đó các hành vi như khai báo y tế không trung thực, né cách ly, trốn cách ly, chống đối lực lượng chức năng về phòng chống dịch bệnh đều là các hành vi bị nghiêm cấm.

Về xử phạt hành chính, chúng ta có thể áp dụng Nghị định 176/2013/NĐ-CP của Chính phủ, với mức phạt tiền từ 5 triệu đến 10 triệu đồng đối với một trong các hành vi: không tổ chức thực hiện việc cách ly y tế đối với người mắc bệnh truyền nhiễm…; từ chối hoặc trốn tránh việc áp dụng quyết định cách ly y tế…

Mức phạt trên nhiều người cho rằng quá thấp, so với mức phạt 10.000 Đô la Singapore, hay mức phạt 5.000 EURO của Italia, và mức 10.000 EURO của Đức mới ban hành mấy ngày gần đây.

Trong khi Chính phủ chưa kịp sửa Nghị định xử phạt hành chính đối với các hành vi vi phạm nêu trên thì cần xử phạt kịp thời, nghiêm minh bất cứ ai vi phạm về việc khai báo y tế gian dối, trốn, tránh cách ly, cũng có tác dụng giáo dục và răn đe kịp thời.

Về xử lý hình sự: Bộ luật Hình sự 2015 đã quy định tại Điều 240 về "tội làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho người", theo đó đã quy định rất chi tiết: Người nào thực hiện một trong các hành vi như: làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho người thì bị phạt tiền từ 50 triệu đến 200 triệu đồng hoặc phạt tù từ 1 năm đến 5 năm; Nếu gây hậu quả nghiêm trọng hơn, sẽ bị phạt tù từ 10 năm đến 12 năm.

Tại sao chưa khởi tố vụ vi phạm nào từ khi diễn ra dịch Covid-19? Có ý kiến cho rằng Điều 240 Bộ luật Hình sự chưa được hướng dẫn áp dụng. Tôi không đồng tình ý kiến này, vì Điều 240 Bộ luật Hình sự về "tội làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho người" đã khá rõ ràng, không buộc phải có hướng dẫn áp dụng.

Nếu các cơ quan tố tụng còn lúng túng, chần chừ chưa dám mạnh tay xử lý, thì thiết nghĩ Bộ Công an, VKSNDTC, TANDTC cần có hướng dẫn, chỉ đạo thực hiện ngay, đáp ứng nhu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm trong mùa dịch bệnh.

Xử phạt nghiêm khắc, kịp thời sẽ có tác dụng răn đe, giáo dục, chứ chỉ thuyết phục vận động trong đại dịch là không “xi nhê” gì.

Cần phải lưu ý: Theo Điều 49 của Luật về phòng, chống bệnh truyền nhiễm, việc cách ly y tế đối với người mắc bệnh dịch, người bị nghi ngờ mắc bệnh dịch, người mang mầm bệnh dịch, người tiếp xúc với tác nhân gây bệnh dịch thuộc nhóm A là bắt buộc, theo yêu cầu của chính quyền và hoặc cơ quan y tế, ai chống đối còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Chống người thi hành công vụ”, theo Điều 330 Bộ luật Hình sự 2015.

Cũng theo Luật về phòng, chống bệnh truyền nhiễm, thì việc khám chữa bệnh sẽ được miễn phí (Nhà nước lo), nhưng việc các chi phí cách ly không có quy định miễn phí, nên Nhà nước có quyền yêu cầu mọi người trả chi phí ăn, ở cách ly; nếu ai hoàn cảnh quá khó khăn có thể làm đơn xin miễn giảm từng đối tượng.

Mới thấy, một số người phàn nàn, chê bôi điều kiện nơi cách ly, hoặc đòi hỏi này nọ nơi cách ly là rất đáng lên án, trong khi chưa phải trả tiền.

Một vấn đề nữa cần nêu đích danh tên, địa chỉ người mắc bệnh dịch, những nơi mà người đó từng tới, tiếp xúc với người khác trong vòng 14 ngày trước đó, để người khác biết mà khai báo, áp dụng cách ly, hạn chế tối đa lây nhiễm cộng đồng.

Việc công khai danh tính người mắc bệnh dịch trong tình trạng cấp bách phòng chống dịch là cần thiết, không phải là hành vi xâm hại quyền tự do cá nhân, không ai kỳ thị, vì bệnh tật là điều không may, không ai muốn.

Có khi công khai danh tính người bị nhiễm bệnh còn được người thân cảm thông chia sẻ, động viên, thậm chí còn là một sự giúp đỡ kịp thời người mắc bệnh dịch được áp dụng sự kiện "bất khả kháng" trong trường hợp người nhiễm bệnh đang có nguy cơ bị phạt do vi phạm thời hạn các hợp đồng mà họ đã ký kết, nhưng do dịch bệnh mà không thể hoàn thành đúng, đủ thời hạn đã thỏa thuận với các đối tác, bạn hàng của họ.

Tới đây, nếu tình hình dịch bệnh tiếp tục diễn biến nhanh, phức tạp, tôi cho rằng Chính phủ cần trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội hoặc Chủ tịch nước ban bố tình trạng khẩn cấp, theo Điều 42 của Luật phòng, chống dịch bệnh.

Lúc đó mới có thể tận dụng tốt nhất mọi nguồn lực quốc gia, xã hội cho công tác phòng, chống dịch, như: Nhà nước có quyền trưng dụng, trưng mua bất cứ cơ sở nhà đất, xe cộ, trang thiết bị y tế nào nếu thấy cần thiết cho cuộc chiến chống dịch, và mức phạt hành chính đối với các hành vi trốn tránh cách ly, vi phạm quy định cấm tụ tập đông người sẽ cao hơn, từ 20 triệu đến 30 triệu đồng.

Xử lý nghiêm minh, kịp thời mọi hành vi vi phạm pháp luật trong cơn đại dịch này là biện pháp pháp lý rất quan trọng, góp phần giành thắng lợi, đẩy lùi và dập tắt được dịch bệnh như mong muốn của tất cả chúng ta.

LS TRƯƠNG XUÂN TÁM

(Uỷ viên Hội đồng Luật sư toàn quốc,
Chủ nhiệm Đoàn Luật sư Tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu)

 

 
 

Thăm và tặng quà tết luật sư cao tuổi

Sáng 15/1/2020, Đoàn Luật sư tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu do LS Trương Xuân Tám, Chủ nhiệm làm trưởng đoàn, cùng hai Phó chủ nhiệm là LS Phạm Hùng, Bí thư chi bộ và LS Mai Thành Long, Chánh văn phòng đã đi thăm và tặng quà tết một số Luật sư cao tuổi có nhiều đóng góp cho sự phát triển của Đoàn Luật sư tỉnh.

 LS TRUONG XUAN TAM

Luật sư Trương Xuân Tám (phải) trao quà tết cho LS Nguyễn Thị Sáng.

 

Đoàn đã đến thăm LS Nguyễn Thị Sáng, 92 tuổi, nguyên Chủ nhiệm Đoàn Luật sư tỉnh; các Luật sư: Lê Thúc Anh,78 tuổi; Nguyễn Văn Tính, 78 tuổi; Hoàng Hữu Cát, 75 tuổi; Đinh Văn Quế, 70 tuổi; Nguyễn Đức Chí, 70 tuổiPhạm Đức Hạnh, 70 tuổi.

Tại các nơi đến, LS Trương Xuân Tám đã trao quà tết và chúc các Luật sư nhiều sức khỏe, đón xuân vui tươi đầm ấm cùng gia đình và mong rằng các luật sư cao tuổi có nhiều sức khỏe, tiếp tục có nhiều đóng góp cho sự phát triển Đoàn Luật sư tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

PHẠM HÙNG

 
 

Trang 4 trong tổng số 8